Thứ ba ngày 23 tháng 1 năm 2018 | 10:24

Tổng cục ĐBVN học tập, quán triệt Nghị quyết TW6 khóa XII

Ngày 22/1, Tổng cục ĐBVN tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc học tập, quán triệt Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII.

Đồng chí Nguyễn Văn Huyện, Bí thư Đảng ủy, Tổng cục trưởng Tổng cục ĐBVN phát biểu khai mạc Hội nghị.

Phát biểu khai mạc Hội nghị, đồng chí Nguyễn Văn Huyện, Bí thư Đảng ủy, Tổng cục trưởng Tổng cục ĐBVN cho biết, thực hiện chương trình hành động số 4 ngày 8/1/2018 của Bộ GT về thực hiện nghị quyết lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa XII, Đảng ủy Tổng cục ĐBVN tổ chức Hội nghị học tập quán triệt nghị quyết cho các cấp ủy và chi bộ trực thuộc khu vực phía Bắc.

Trong đó, có 4 Nghị quyết: Nghị quyết số 18-NQ/TW “một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; Nghị quyết số 19-NQ/TW “về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập”; Nghị quyết số 20-NQ/TW “về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới”; Nghị quyết số 21-NQ/TW “về công tác dân số trong tình hình mới”.

Đồng chí Bí thư nhấn mạnh, bốn nghị quyết mà Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 ban hành là những quyết sách quan trọng của Đảng, đề cập đến nhiều vấn đề rộng lớn, hệ trọng của đất nước, vừa cơ bản, vừa cấp bách và là sự cụ thể hóa các nhiệm vụ trọng tâm mà Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đề ra.

Tổng cục tổ chức Hội nghị lần này nhằm giúp các đồng chí nắm vững những nội dung cơ bản của nghị quyết 6 đồng thời vận dụng những mục tiêu, quan điểm giải pháp và xây dựng chương trình, kế hoạch hành động của cơ quan, đơn vị, đề cao trách nhiệm gương mẫu, nói đi đôi với làm, triển khai nghị quyết một cách có hiệu quả.

Đồng chí Bí thư đề nghị các đồng chí dự Hội nghị tập trung lắng nghe, đào sâu nghiên cứu, nắm thật chắc những nội dung cơ bản của các Nghị quyết, nhất là những điểm mới, những luận điểm cốt lõi, thể hiện sự phát triển về nhận thức và lý luận của Đảng trong các vấn đề. Các cấp ủy tiếp tục đổi mới phương thức tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, quán triệt và tuyên truyền thực hiện Nghị quyết đồng bộ hiệu quả nhằm tạo sự chuyển biến nhận thức thống nhất ý chí trong toàn Đảng bộ đặc biệt là các cán bộ lãnh đạo chủ chốt.

Tại Hội nghị, đồng chí Vũ Đức Nam, Ủy viên Ban thường vụ, Trưởng ban tuyên giáo Đảng ủy khối các cơ quan Trung ương giới thiệu, quán triệt nội dung của 4 Nghị quyết 18, 19, 20, 21 -  NQ/TW.

Đồng chí Vũ Đức Nam, Ủy viên Ban thường vụ, Trưởng ban tuyên giáo Đảng ủy khối các cơ quan Trung ương giới thiệu, quán triệt nội dung của 4 Nghị quyết 18, 19, 20, 21 -  NQ/TW.

Theo Trưởng Ban tuyên giáo, 30 năm đổi mới, chúng ta đổi mới kinh tế đi đôi với hệ thống chính trị. Việc đổi mới hài hòa các yếu tố góp phần thúc đẩy đất nước phát triển trên mọi mặt. Tuy nhiên, tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối, nhất là số đầu mối bên trong của các cơ quan trong hệ thống chính trị ngày càng phình ra, hiệu lực hiệu quả chưa đáp ứng yêu cầu. Cả nước có 42 tổng cục, tăng 2 lần so với 2011; 826 cục, vụ thuộc các tổng cục, tăng 4,7%; 7.280 phòng trong tổng cục, tăng 4,7%; 750 vụ cục và tương đương thuộc bộ tăng 13,6%; 3.970 phòng trực thuộc bộ tăng 13% so với 2011. Số liệu này chưa kể Quân đội và Công an.

Đồng chí Vũ Đức Nam cũng chỉ rõ một số cơ quan tham mưu của Đảng với chuyên môn nhà nước như Ban Tổ chức, UB Kiểm tra, Ban Tuyên giáo… còn chồng chéo chức năng, nhiệm vụ với cơ quan Nội vụ, Thanh tra, TT&TT của nhà nước. Một số bộ như Giao thông vận tải với Xây dựng; Kế hoạch Đầu tư với một số bộ khác cũng trong tình trạng tương tự.

Việc quản lý nợ công liên quan nước ngoài có 3 bộ ngành: Kế hoạch Đầu tư, Tài chính, Ngân hàng nhà nước nhưng hiệu lực, hiệu quả, phối hợp không chặt chẽ, có những vấn đề không kiểm soát được nhưng nhập lại cũng rất vất vả.

Về đơn vị hành chính cấp địa phương, ông cho biết, năm 1986 chỉ có 44 đơn vị hành chính cấp tỉnh nhưng đến nay đã tăng thành 63. Sau 30 năm đổi mới, cả nước đã tăng thêm 19 tỉnh, 178 huyện, 1.136 xã.

“Theo Nghị quyết 39 mỗi năm phải tinh giản 70.000 người, sau 2 năm phải giảm 140.000 - 150.000 người, thực tế ngược lại, không giảm được mà còn tăng thêm 96.000 người. Đây là một mâu thuẫn”, Trưởng Ban tuyên giáo Đảng ủy khối các cơ quan Trung ương nhấn mạnh.

Về số lượng lãnh đạo, cấp phó, đồng chí Nam cho hay, còn chiếm tỉ lệ cao, bổ nhiệm cấp hàm một số cơ quan Trung ương còn nhiều.

“Cả nước hiện có hơn 81 nghìn lãnh đạo cấp phó từ phó phòng đến thứ trưởng, chiếm 21,7% tổng số cán bộ công chức từ Trung ương đến cấp huyện. Cứ 5 cán bộ, công chức có 1 lãnh đạo cấp phó, có nơi 44/46 lãnh đạo, có cơ quan 100% cán bộ là lãnh đạo, chả có ai là chuyên viên cả”, đồng chí Nam dẫn chứng.

Nghị quyết số 19-NQ/TW “về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập”.

Đồng chí Vũ Đức Nam cho biết, Nghị quyết số 19 nêu rõ: Đổi mới căn bản, toàn diện và đồng bộ hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập, bảo đảm tinh gọn, có cơ cấu hợp lý, có năng lực tự chủ, quản trị tiên tiến, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; giữ vai trò chủ đạo, then chốt trong thị trường dịch vụ sự nghiệp công; cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu có chất lượng ngày càng cao.

Giảm mạnh đầu mối, khắc phục tình trạng manh mún, dàn trải và trùng lắp; tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, viên chức. Giảm mạnh tỷ trọng, nâng cao hiệu quả chi ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập để cơ cấu lại ngân sách nhà nước, cải cách tiền lương và nâng cao thu nhập cho cán bộ, viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập. Phát triển thị trường dịch vụ sự nghiệp công và thu hút mạnh mẽ các thành phần kinh tế tham gia phát triển dịch vụ sự nghiệp công. Nghị quyết 19 xác định tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập.

Cụ thể, đến năm 2021, Trung ương Đảng yêu cầu giảm mạnh về đầu mối, tối thiểu bình quân cả nước giảm 10% đơn vị sự nghiệp công lập. Giảm tối thiểu 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2015. Cơ bản chấm dứt số hợp đồng lao động không đúng quy định trong các đơn vị sự nghiệp công lập (trừ những đơn vị đã bảo đảm tự chủ tài chính).

Phấn đấu có 10% đơn vị tự chủ tài chính, giảm bình quân 10% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2011 - 2015.

Đến năm 2025, tiếp tục giảm bình quân 10% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2016 - 2020.
Đến năm 2030, giảm 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2025.

Giảm bình quân 15% chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2021 - 2025.

Để thực hiện mục tiêu này, Nghị quyết nêu nhiệm vụ và giải pháp cụ thể đối với từng lĩnh vực. Theo đó, với lĩnh vực KH&CN, Nghị quyết 19 nêu rõ:

Rà soát, sắp xếp lại hệ thống tổ chức KH&CN nhằm giảm mạnh đầu mối, kể cả ở các bộ, cơ quan trung ương và địa phương, khắc phục tình trạng chồng chéo, dàn trải, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực nghiên cứu, gắn với quá trình cơ cấu lại ngành khoa học và công nghệ. Về cơ bản, chỉ nên tổ chức một đơn vị sự nghiệp công lập thuộc sở KH&CN.

Lựa chọn để tập trung đầu tư một số tổ chức nghiên cứu khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng đạt trình độ khu vực và thế giới. Phát triển, nâng cao năng lực hệ thống các tổ chức dịch vụ KH&CN, phát triển mạnh mẽ thị trường KH&CN phù hợp với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

Chuyển một số tổ chức KH&CN hoạt động nghiên cứu ứng dụng mà sản phẩm khoa học có khả năng thương mại hóa thành doanh nghiệp hoặc chuyển về trực thuộc các tập đoàn kinh tế, tổng công ty. Có cơ chế tăng cường liên kết giữa các tổ chức KH&CN với các trường đại học và doanh nghiệp để gắn kết nghiên cứu khoa học với hoạt động đào tạo và sản xuất kinh doanh.

Nghiên cứu chuyển một số tổ chức khoa học và công nghệ công lập hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản về trực thuộc các trường đại học, học viện để thúc đẩy gắn kết giữa nghiên cứu với đào tạo.

Hội nghị học tập, quán triệt Nghị quyết TW 6 khóa XII.

Nghị quyết số 20-NQ/TW chỉ đạo: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và của toàn xã hội trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.

Cấp ủy, chính quyền các cấp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, coi đây là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu. Thống nhất nhận thức, quyết tâm hành động của cả hệ thống chính trị và của mỗi người dân trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho bản thân, gia đình, cộng đồng. Đưa các mục tiêu, chỉ tiêu về y tế và các lĩnh vực ảnh hưởng đến sức khỏe như môi trường, thể dục, thể thao, văn hóa… vào chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các ngành, các cấp. Tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các chế độ, chính sách về y tế và các lĩnh vực liên quan tới sức khỏe.

Nghị quyết số 20 cũng nêu rõ: Tập trung nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi, đề cao trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội và của mỗi người dân; xây dựng và tổ chức thực hiện đồng bộ các đề án, chương trình về nâng cao sức khỏe và tầm vóc người Việt Nam. Quan tâm các điều kiện để mỗi người dân được bảo vệ, nâng cao sức khỏe, đặc biệt là ở vùng nông thôn, miền núi, hải đảo.

Nghị quyết đề ra mục tiêu, đến năm 2025: Tuổi thọ trung bình khoảng 74,5 tuổi, số năm sống khỏe đạt tối thiểu 67 năm; Tỉ lệ tham gia BHYT đạt 95% dân số. Tỉ lệ chi trực tiếp từ tiền túi của hộ gia đình cho y tế giảm còn 35%. Tỉ lệ tiêm chủng mở rộng đạt tối thiểu 95% với 12 loại vắc xin. Giảm tỉ suất tử vong trẻ em: Dưới 5 tuổi còn 18,5‰; dưới 1 tuổi còn 12,5‰. Tỉ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi của trẻ em dưới 5 tuổi dưới 20%. Tỉ lệ béo phì ở người trưởng thành dưới 12%. Chiều cao trung bình thanh niên 18 tuổi đối với nam đạt 167 cm, nữ 156 cm. Phấn đấu trên 90% dân số được quản lý sức khỏe; 95% trạm y tế xã, phường, thị trấn thực hiện dự phòng, quản lý, điều trị một số bệnh không lây nhiễm. Đạt 30 giường bệnh viện, 10 bác sĩ, 2,8 dược sĩ đại học, 25 điều dưỡng viên trên 10.000 dân. Tỉ lệ giường bệnh tư nhân đạt 10%. Tỉ lệ hài lòng của người dân với dịch vụ y tế đạt trên 80%.

Đến năm 2030: Tuổi thọ trung bình khoảng 75 tuổi, số năm sống khỏe đạt tối thiểu 68 năm. Tỉ lệ tham gia BHYT trên 95% dân số. Tỉ lệ chi trực tiếp từ tiền túi của hộ gia đình cho chăm sóc y tế giảm còn 30%. Bảo đảm tỉ lệ tiêm chủng mở rộng đạt 95% với 14 loại vắc xin. Giảm tỉ suất tử vong trẻ em: Dưới 5 tuổi còn 15‰; dưới 1 tuổi còn 10‰. Tỉ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi của trẻ em dưới 5 tuổi dưới 15%; khống chế tỉ lệ béo phì ở người trưởng thành dưới 10%. Chiều cao trung bình thanh niên 18 tuổi đối với nam đạt 168,5 cm, nữ 157,5 cm. Phấn đấu trên 95% dân số được quản lý sức khỏe; 100% trạm y tế xã, phường, thị trấn thực hiện dự phòng, quản lý, điều trị một số bệnh không lây nhiễm. Đạt 32 giường bệnh viện, 11 bác sĩ, 3,0 dược sĩ đại học, 33 điều dưỡng viên trên 10.000 dân. Tỉ lệ giường bệnh tư nhân đạt 15%. Tỉ lệ hài lòng của người dân với dịch vụ y tế đạt trên 90%. Cơ bản chấm dứt các dịch bệnh AIDS, lao và loại trừ sốt rét.

Nghị quyết số 21-NQ/TW chỉ đạo tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Công tác dân số phải chú trọng toàn diện các mặt quy mô, cơ cấu, phân bố, đặc biệt là chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh bảo đảm phát triển nhanh và bền vững.

Chính sách dân số phải bảo đảm cân bằng, hài hoà giữa quyền và nghĩa vụ của mọi người dân; giữa việc tuyên truyền vận động, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi với thực thi nghiêm kỷ cương pháp luật; giữa việc mở rộng, ứng dụng các kỹ thuật mới với việc nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân.

Trung ương Đảng cho rằng, đầu tư cho công tác dân số là đầu tư cho phát triển. Nhà nước ưu tiên bố trí ngân sách, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa; tranh thủ sự hỗ trợ của quốc tế bảo đảm nguồn lực cho công tác dân số.
Nghị quyết số 21 của Ban chấp hành Trung ương Đảng xác định một số mục tiêu công tác dân số đến năm 2030:

Duy trì vững chắc mức sinh thay thế (bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có 2,1 con), quy mô dân số 104 triệu người.

Tỷ số giới tính khi sinh dưới 109 bé trai/100 bé gái sinh ra sống; tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi đạt 22%; tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên đạt 11%; tỷ số phụ thuộc chung đạt 49%.

Tỷ lệ nam, nữ thanh niên được tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn đạt 90%. Tuổi thọ bình quân khoảng 75 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm; 100% người cao tuổi có thẻ bảo hiểm y tế, được quản lý sức khỏe, được khám, chữa bệnh, được chăm sóc tại gia đình, cộng đồng, cơ sở chăm sóc tập trung.

Chiều cao người Việt Nam 18 tuổi đối với nam đạt 168,5 cm, nữ đạt 157,5 cm. Chỉ số Phát triển con người (HDI) nằm trong nhóm 4 nước hàng đầu khu vực Đông Nam Á.

Ngô Thùy

Gửi bình luận của bạn

Code
  • Ngày :
máy làm đá viên | tủ nấu cơm | máy làm đá