Thứ năm ngày 2 tháng 9 năm 2021 | 8:36

Tuyên ngôn Độc lập là bản anh hùng ca bất diệt của dân tộc Việt Nam

76 năm về trước Ngày 02-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập trước hàng chục vạn đồng bào trong nước và thế giới, tuyên bố khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

 
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập  ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình.


Hôm nay sáng mồng hai tháng chín
Thủ đô hoa, vàng nắng Ba Đình
Muôn triệu tim chờ... chim cũng nín
Bỗng vang lên tiếng hát ân tình
Hồ Chí Minh! Hồ Chí Minh!
…Người đọc tuyên ngôn.... Rồi chợt hỏi:
"Đồng bào nghe tôi nói rõ không?"
…Cả muôn triệu một lời đáp: "Có!"
Như Trường Sơn say gió biển Đông
Trời bỗng xanh hơn, nắng chói loà
Ta nhìn lên Bác, Bác nhìn ta
Bốn phương chắc cũng nhìn ta đó
Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà!

Những dòng thơ xúc động, hào sảng ghi lại không khí trang nghiêm, tự hào hạnh phúc của 76 năm về trước Ngày 02-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập trước hàng chục vạn đồng bào trong nước và thế giới, tuyên bố khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sau khi Hà Nội và miền Bắc khởi nghĩa thắng lợi, ngày 25 tháng 8, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu trở về ngoại thành Hà Nội. Chiều hôm sau, Bác về ở căn gác 2, nhà số 48, phố Hàng Ngang, Hà Nội để trực tiếp chỉ đạo phong trào. Bác đã chủ tọa phiên họp của Thường vụ Trung ương Đảng bàn về công tác đối nội, đối ngoại, và đưa ra quyết định về việc khẩn trương tổ chức lễ ra mắt chính phủ lâm thời ( ngày 2/9/1945) và viết Tuyên ngôn độc lâp. Những ngày tháng trọng đại này “Tháng Tám năm 1945 ở Hà Nội” đã được đồng chí Vũ Kỳ thư ký riêng của Bác kể lại. Chuyện được in trong cuốn: “117 Chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Trung tâm thông tin công tác tư tưởng - Ban Tuyên giáo Trung ương chon lọc, sưu tập và biên soạn và được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia in phát hành năm 2007 nhân dịp kỷ niệm 117 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 - 19-5-2007).

“Tháng Tám năm 1945 ở Hà Nội
 Đầu năm 1941, Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng.
Ngày 19 tháng 8 năm 1945, Hà Nội khởi nghĩa giành chính quyền, rồi lần lượt đến các tỉnh khác trong cả nước. Cuối tháng 8 năm 1945Thường vụ Trung ương quyết định đưa Bác về Thủ đô Hà Nội để 1ãnh đạo, giữ vững và củng cố chính quyền non trẻ. Lúc ấy, Bác ốm và rất gầy. Chúng tôi mua ít tim gan nấu cháo cho Bác. Nhưng có thể do không may mua phải tim của lợn gạo nên Bác lại lên cơn sốt cao. Trên đường về Hà Nội có lúc mệt quá, Bác không đi được, anh em dùng vải và đòn tre làm cáng. Nằm trên cáng, người hầm hập nhưng Bác vẫn thấy vui vì đi tới đâu cũng thấy cờ đỏ sao vàng và đồng bào hào hứng hô vang: ''Ủng hộ Việt Minh'', chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm''. Chiều 25 tháng 8, về đến ngoại thành Hà Nội,  Bác dừng lại ở làng Phú Gia. Chiều tối chủ nhật, 26 tháng 8 năm 1945 đồng chí Trường Chinh đến đón Bác. Hà Nội hừng hực khí thế cách mạng. Khắp phố phường tràn ngập niềm hân hoan với cờ đỏ sao vàng. Ít ai để ý đến một chiếc xe cũ, màu đen chở Bác chạy từ phía Chèm dọc theo đê Yên Phụ, xuống dốc Hàng Than qua phố Hàng Giấy rồi rẽ Hàng Mã về đến trước số nhà 35 Hàng Cân. Xe đưa Bác vào cổng sau, rồi Bác lên thẳng gác 2 nhà 48 phố Hàng Ngang. Đây là ngôi nhà 3 tầng của ông Trịnh Văn Bô, một thương gia lớn của Hà Nội và là cơ sở của cách mạng. Nhà xây chắc chắn, rất tiện cho công tác bảo vệ. Tầng l và tầng 3 chủ nhà dành để ở và bán hàng. Còn tầng 2 dành cho cách mạng. Lúc này, chủ nhà chưa biết người cách mạng đó chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đi lên, đi xuống nhiều chủ nhà chỉ thấy một cụ già dáng người gầy nhưng nhanh nhẹn, có đôi mắt sáng lạ thường. Sau này chủ nhà mới biết ngôi nhà của mình có vinh dự được đón tiếp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngay chiều tối hôm sau, 27 tháng 8, tôi (tức Vũ Kỳ) được Trung ương chọn làm thư ký cho Bác. Bác thân mật hỏi tôi:
- Chú tên gì?
Tôi thưa:
- Cháu tên Cần ạ (tên của tôi hồi đó).
Có lẽ tôi xúc động nói không rõ nên Bác nghe thành Cẩn, Bác trìu mến bảo:
- Cẩn à, Cẩn là cẩn thận. Rất tốt.
Sáng hôm sau, Bác lại hỏi tên tôi, tôi thưa rất rõ:
- Cháu là Cần ạ.
Bác tỏ ra rất vui và nói ngay:
- Cần thì càng tốt. Cần là cần, kiệm, liêm, chính.
Đó cũng là niềm mong muốn của Bác về phẩm chất, đạo đức của người cán bộ mà những năm sau này mỗi dịp gặp cán bộ, mỗi khi đến thăm các lớp huấn luyện, Bác đều căn dặn mọi người phải thực hiện cần kiệm, liêm, chính.
Trong căn nhà 48 phố Hàng Ngang chủ nhà dùng căn phòng phía sau trên tầng 2 làm phòng ăn. Giữa phòng kê một chiếc bàn gỗ dài và to, quanh bàn có 8 chiếc ghế tựa đệm mềm. Bác dùng bàn này để làm việc với các đồng chí Thường vụ Trung ương. Cuối phòng kê một chiếc bàn tròn. Nơi đây Bác dùng làm bàn ăn. Trong cuộc sống hàng ngày, Bác không dành cho mình một sự ưu đãi nào. Bác là tấm gương sáng về đức tính giản dị của người cán bộ cách mạng. Bác thường ngồi làm việc trên chiếc bàn kê sát tường bọc dạ xanh màu lá mạ vừa đủ để tập giấy bút và chiếc máy chữ nhỏ Bác mang từ chiến khu về. Trong những ngày này, Bác dành nhiều thời gian và tâm trí cho việc soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Hàng ngày Bác dậy sớm tập thể dục sau đó ngồi vào bàn và đánh máy luôn bản thảo. Ban đêm, Bác cũng thức rất khuya, trầm ngâm suy nghĩ về những nội dung trong bản thảo Tuyên ngôn Độc lập. Sáng 29 tháng 8, Bác chuyển đến Bắc Bộ phủ làm việc, ở đây Bác tiếp tục hoàn chỉnh bản Tuyên ngôn Độc lập. Sau mấy ngày sốt, tuy sức khoẻ giảm sút trông thấy, nhưng sức làm việc của Bác thì vẫn phi thường. Đêm 29 tháng 8, Bác thức khuya hơn bình thường vì ngày 2 tháng 9 đã cận kề. Bác viết rồi lại sửa. Những lúc suy nghĩ căng thẳng nhất Bác thường đặt tay lên trán và đôi mắt sáng khi thì nhìn những dòng chữ như có hồn vừa được viết ra, khi thì nhìn vào đêm tối như tìm một điều gì đó mà chỉ riêng Bác mới hiểu.
Cho đến ngày 30 tháng 8, bản Tuyên ngôn Độc lập được dự thảo xong. Bác đưa ra tranh thủ ý kiến các đồng chí Trung ương.
Sáng 31 tháng 8, Bác hỏi tôi:
- Chú Cần có biết Quảng trường dự định họp mít tinh như thế nào không?
Rồi Bác bảo tôi vẽ phác bản đồ cho Bác. Xem bản đồ xong. Bác hỏi:
- Liệu được bao nhiêu người?
Tôi thưa với Bác:
- Được vài chục vạn người đấy ạ.
Bác hỏi tiếp:
- Thế các chú định bố trí để đồng bào đi vệ sinh ở đâu?
Tôi sững sờ trước câu hỏi của Bác và lúng túng không biết trả lời thế nào, thì Bác nói tiếp:
- Việc nhỏ, nhưng nếu không chú ý bố trí cho tốt thì rất đễ mất trật tự. Chú có biết không, ở Hương Cảng, công nhân lao động biểu tình thì chính quyền Anh chưa giải quyết, nhưng khi công nhân công ty vệ sinh đình công thì chính quyền Anh phải giải quyết ngay. Vì đã có tuần giải quyết chậm, rác rưởi bẩn thỉu ngập đường phố.
Tiếp đó, Bác dặn tôi nói với Ban tổ chức nếu trời có mưa thì kết thúc mít tinh sớm hơn, tránh cho đồng bào khỏi bị ướt, nhất là đối với các cụ già và các cháu nhỏ.

Thật hạnh phúc biết bao cho Nhân dân Việt Nam khi được biết vị đứng đầu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ chỉ trước khi đọc bản Tuyên ngôn Độc lập vài giờ vẫn chăm lo đến những cái nhỏ nhất trong đời sống.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945 đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một mốc son chói lọi: khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tại Quảng trường Ba Đình, khi đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, đến đoạn tố cáo tội ác của phát xít Nhật, cả biển người im phăng phắc. Nghĩ đồng bào nghe mình nói tiếng Nghệ An không rõ và quên cả mình là Chủ tịch nước đang trịnh trọng đọc Tuyên ngôn Độc lập, Bác ngừng đọc cất tiếng hỏi rất thân mật:
- Đồng bào nghe rõ tiếng tôi không?

Tiếng trả lời: “Có” như sấm dậy. Chưa bao giờ và chưa ở đâu, người ta lại thấy tình cảm giữa lãnh đạo cao nhất và dân chúng gần gũi và thân thương đến thế! Kết thúc cuộc mít tinh, ra về nhưng mọi người vẫn như nhìn thấy ánh mắt, vẫn như nghe thấy giọng nói ấm áp và hiền hậu của Bác.”

Với cách kể chân thực, dung dị từ người thư ký riêng của Bác, chuyện đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn bối cảnh lịch sử của những ngày tháng đặc biệt qua đó càng cảm phục trước ý chí, tình cảm mà Người đã giành trọn cho dân, cho nước, cho ngày độc lập non sông.

Trên đường về Hà Nội, Bác vẫn còn ốm nặng có lúc không tự đi được phải có người cáng. Vậy mà, nhờ nghị lực phi thường, tinh thần lạc quan cách mạng Bác đã vượt lên hoàn cảnh. Bác làm việc không ngừng nghỉ để chuẩn bị cho ngày chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân và đặc biệt là soạn thảo Bản Tuyên ngôn độc lập.

Chuyện như lắng lại, khi đồng chí Vũ Kỳ kể về nếp sinh hoạt của Bác tại ngôi nhà số 48 phố Hàng Ngang. Gia đình chủ nhà giành toàn bộ tầng 2 cho cách mạng sử dụng. Nhưng Bác chỉ chọn căn phòng phía sau (là phòng ăn ) làm nơi làm việc. “Giữa phòng kê một chiếc bàn gỗ dài và to, quanh bàn có 8 chiếc ghế tựa đệm mềm.’   Bác chỉ  dùng bàn này để làm việc với các đồng chí Thường vụ Trung ương còn “Bác thường ngồi làm việc trên chiếc bàn kê sát tường bọc dạ xanh màu lá mạ vừa đủ để tập giấy bút và chiếc máy chữ nhỏ Bác mang từ chiến khu về”. Và khi ăn Bác cũng chỉ chọn ngồi ở chiếc bàn tròn nhỏ kê ở cuối phòng. Bác vô cùng khiêm tốn và giản dị trong cuộc sống hàng ngày, Người không dành cho mình một sự ưu đãi nào. Ở cương vị cao nhất nhưng Người vẫn giữ phong cách sinh hoạt giản dị và chính sự giản dị đó chúng ta càng thấy Người vĩ đại.
Công việc bộn bề nhưng Bác vẫn giành thời gian quan tâm tới những người xung quanh. Bác thân mật hỏi chuyện, quan tâm, động viên người giúp việc cho mình. Tình cảm yêu thương, sự sẻ chia của Bác không giành cho riêng ai mà là giành cho tất cả muôn người. Khi biết quảng trường nơi sẽ diễn ra lễ mít tinh rộng có sức chứa đến vài chục vạn người Bác đã hỏi:

“Thế các chú định bố trí để đồng bào đi vệ sinh ở đâu?”.Đồng chí Vũ Kỳ khi đó “ sững sờ trước câu hỏi của Bác và lúng túng không biết trả lời thế nào, thì Bác nói tiếp:
     Việc nhỏ, nhưng nếu không chú ý bố trí cho tốt thì rất dễ mất trật tự. Chú có biết không, ở Hương Cảng, công nhân lao động biểu tình thì chính quyền Anh chưa giải quyết, nhưng khi công nhân công ty vệ sinh đình công thì chính quyền Anh phải giải quyết ngay. Vì đã có tuần giải quyết chậm, rác rưởi bẩn thỉu ngập đường phố.”
Thật sự xúc động! Bác lo cho dân từ vấn đề nhỏ nhất trong sinh hoạt: việc đi vệ sinh cho đến thời tiết hôm diễn ra lễ mít tinh. Bác dặn đồng chí Vũ Kỳ “nói với Ban tổ chức nếu trời có mưa thì kết thúc mít tinh sớm hơn, tránh cho đồng bào khỏi bị ướt, nhất là đối với các cụ già và các cháu nhỏ”. Sự quan tâm, tình thương yêu vô bồ bến của Bác giành cho chúng ta thật đúng là:
“Ôi lòng Bác vậy, cứ thương ta
Thương cuộc đời chung, thương cỏ hoa
Chỉ biết quên mình, cho hết thảy
Như dòng sông chảy, nặng phù sa.”

Sinh thời Bác từng nói: “lòng yêu thương Nhân dân và nhân loại của tôi không bao giờ thay đổi.  Tôi yêu nhất điều thiện và ghét nhất điều ác.”
Tình thương yêu, quý trọng con người của Bác đã được nhân loại  ngợi ca: "bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu có chiến đấu cho hòa bình và công lý ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ đâu nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao".
Thương yêu, quý trọng con người, quý trọng Nhân dân  của Bác còn thể hiện ở sự tôn trọng họ. Khi đọc bản Tuyên ngôn trong không khí trang trọng Bác đã ngừng đọc hỏi mọi người rất thân mật:

 “ Đồng bào nghe rõ tiếng tôi không?” Vì  nghĩ mình nói tiếng Nghệ An nên đông bào nghe không rõ.

Tiếng trả lời: “Có” được đồng thanh, vui sướng, hạnh phúc vang lên như sấm dậy của biển người trong buổi chiều ngày mồng 2  tháng 9 lịch sử năm ấy vì: “Chưa bao giờ và chưa ở đâu, người ta lại thấy tình cảm giữa lãnh đạo cao nhất và dân chúng gần gũi và thân thương đến thế!”
Và cũng chính vì nội dung bản Tuyên ngôn độc lập mà Người soạn thảo và đọc có ý nghĩa vô cùng to lớn: Bản Tuyên ngôn Độc lập đã khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Là bản tuyên ngôn trong thời hiện đại sau bản tuyên ngôn “Nam quốc sơn hà” thời Lý Thường Kiệt hay “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi. Đây là bản tuyên ngôn khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, khẳng định quyền tự do, độc lập của Nhân dân ta trước toàn thế giới..Bản Tuyên ngôn đánh dấu mốc trọng đại trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc; chấm dứt ách thống trị của thế lực xâm lược từ phương Tây, sự chiếm đóng của phát xít Nhật và đánh dấu sự kết thúc của chế độ phong kiến quân chủ  ở Việt Nam. Tuyên ngôn Độc lập là kết quả của sự hy sinh anh dũng, đấu tranh kiên cường, bền bỉ của dân tộc Việt Nam vì nền độc lập của dân tộc, tự do, hạnh phúc của Nhân dân. Tuyên ngôn Độc lập khẳng định: độc lập dân tộc là quyền thiêng liêng và bất khả xâm phạm của mọi dân tộc, trong đó có dân tộc Việt Nam: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Trong những quyền hiển nhiên, tự nhiên của con người, quyền được sống trong một đất nước độc lập, có chủ quyền là quyền thiêng liêng nhất, chỉ có trong điều kiện dân tộc được độc lập, người dân mới có thể thực hiện được các quyền con người khác như quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại, tự do học hành; mới có dân chủ, mới có hạnh phúc…
Tuyên ngôn Độc lập đã đánh  một dấu mốc lịch sử quan trọng, đó là  Việt Nam chính thức là thành viên của cộng đồng quốc tế, có đầy đủ tư cách pháp nhân để thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước trên thế giới. Tuyên ngôn Độc lập tuyên bố trước toàn thế giới về nền độc lập, chủ quyền của Việt Nam và sự ra đời Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đại diện chính thức cho quyền lợi và nghĩa vụ của Nhân dân Việt Nam trong quan hệ quốc tế, mở ra trang sử mới cho lịch sử ngoại giao của  đất nước.

 Tuyên ngôn Độc lập cho thấy trí tuệ sắc sảo và lỗi lạc của Bác. Đây là kết quả của một quá trình tư duy khoa học độc đáo và thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử, một văn bản pháp lý quan trọng bậc nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Tuyên ngôn Độc lập thể hiện rõ một chân lý đó là chính nghĩa, là lẽ phải, là quyền dân tộc, quyền con người phải được tôn trọng.  Tuyên ngôn Độc lập là bản anh hùng ca bất diệt của dân tộc Việt Nam, mở đầu kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc để từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội, luôn mãi trường tồn cùng dân tộc và đất nước Việt Nam trên đường đổi mới, phát triển và hội nhập.

Với những giá trị to lớn và ý nghĩa thời đại mà bản Tuyên ngôn độc lập do Bác soạn thảo đã được xếp vào một trong 8 bản tuyên ngôn nổi tiếng trên thế giới.

“Tháng Tám năm 1945 ở Hà Nội”. Cám ơn Vũ Kỳ - người thư ký tận tụy, gắn bó và  theo Bác suốt những chặng đường lịch sử của đất nước. Chuyện Ông kể lại đã giúp chúng ta hiểu thêm về Bác về  “ Người anh hùng giải phóng dân tộc và là nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”.

Trong những ngày tháng mùa thu lịch sử này: Mùa thu năm 1945  - Mùa thu năm 2021 - 76 năm đã qua, nhưng trong tâm trí mỗi người dân Việt Nam vẫn luôn nhắc nhớ để yêu Bác, kính Bác, biết ơn Bác bằng những việc làm thiết thực của mình:

“Đời sẽ tươi hơn, xây dựng mới
Đàng hoàng to đẹp, sáng trời Đông
Tuổi xanh vững bước lên phơi phới
Đi tới, như lòng Bác ước mong.”

 

 

 

 

 

Nguyễn Thị Thơm, Giáo viên trường cán bộ Quản lý GTVT

Gửi bình luận của bạn

Code
  • Ngày :
máy làm đá viên | tủ nấu cơm | máy làm đá